Rèn chữ đúng và đẹp cho học sinh lớp 5

Tháng Mười 18, 2017 12:36 chiều

MỤC LỤC

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ. 1
  2. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. 2
  3. Cơ sở lý luận và thực tiễn. 2

1.1. Tầm quan trọng của chữ viết. 2

1.2. Khái niệm viết đúng và viết đẹp. 2

2.Thực trạng trước khi thực hiện các giải pháp của đề tài 2

2.1. Thuận lợi 3

2.2. Khó khăn. 3

2.3. Số liệu thống kê. 3

  1. Một số giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề đặt ra. 5

3.1. Khắc phục tình trạng viết xấu. 5

3.1.1. Chuẩn bị tốt các điều kiện học tập. 5

3.1.2. Thường xuyên nhắc nhở học sinh nắm được các quy tắc trong quá trình viết 5

3.2. Giúp học sinh từ viết đúng tiến tới viết đẹp. 9

3.2.1.     Giúp học sinh hiểu văn bản. 9

3.2.2. Chấm tay đôi với học sinh. 10

3.2.3.     Hình thức làm mẫu. 10

3.2.4.     Hình thức tuyên dương – phê bình. 10

3.2.5.     Thái độ, phương pháp dạy của giáo viên ảnh hưởng đến tâm thế của học sinh 11

  1. Hiệu quả do sáng kiến kinh nghiệm đem lại 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO.. 16

PHỤ LỤC.. 17

 

I.              ĐẶT VẤN ĐỀ

Như chúng ta đã biết chữ viết là một trong những phát minh vĩ đại của con người. Từ khi ra đời chữ viết là công cụ đắc lực trong việc ghi lại, truyền bá toàn bộ kho trí thức của nhân loại. Chẳng những vậy con người còn coi chữ viết như một người bạn thường xuyên gần gũi, thân thiết với mình. Từ tình cảm ấy con người muốn chữ viết cũng phải đẹp, đẹp cho chính nó, đẹp cho con người. Ngoài những ý nghĩa to lớn nói trên, những mẫu chữ đẹp còn là môi trường quan trọng bồi dưỡng cho trẻ những phẩm chất tốt như : tính cẩn thận, tinh thần kỷ luật và óc thẩm mỹ mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc sinh thời đã nói : “Chữ viết cũng là một biểu hiện của nết người. Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy và bạn đọc bài vở của mình … ”.

          Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy chữ viết của nhiều em còn xấu, tốc độ viết quá chậm, chữ viết cẩu thả, chưa đúng cỡ chữ, độ cao con chữ, khoảng cách giữa tiếng với tiếng, từ với từ chưa xác định cụ thể, viết chưa liền mạch …  Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học Tiếng Việt nói riêng và các môn học khác nói chung.

Là một người giáo viên đang trực tiếp đứng trên bục giảng, trong tôi luôn đặt ra câu hỏi phải làm gì, làm như thế nào để  giúp các em viết đúng, viết đẹp để góp phần nâng cao chất lượng học tập của các em với các môn học  khác. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng chữ viết đúng, đẹp cho các em và và làm cho phong trào “ Vở sạch – chữ đẹp” của lớp cũng như của trường ngày một đi lên một cách bền vững nhất. Chính vì vậy mà tôi đã quyết định chọn đề tài “ Rèn chữ đúng và đẹp cho học sinh lớp 5” làm sáng kiến kinh nghiệm.

 

 

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. Cơ sở lý luận và thực tiễn

1.1. Tầm quan trọng của chữ viết.

Chữ viết là sáng tạo kỳ diệu của con người. Sự xuất hiện của chữ viết đánh dấu một giai đoạn phát triển về chất của ngôn ngữ. Chữ viết và dạy chữ viết được mọi người quan tâm. việc thực hiện rèn kỹ năng viết chữ cho học sinh tiểu học đã được nhiều thế hệ thầy, cô giáo quan tâm, trăn trở, góp nhiều công sức cải tiến kiểu chữ, nội dung cũng như phương pháp dạy chữ viết. Tuy vậy vẫn còn có những học sinh viết sai viết xấu và viết chậm. Đều đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập Tiếng Việt nói riêng, học các môn khác nói chung.

1.2. Khái niệm viết đúng và viết đẹp

– Viết đúng là:

+ Viết đúng độ cao và độ rộng của các chữ, các chữ số theo quy định.

+ Viết đúng khoảng cách giữa các con chữ trong một chữ và giữa các chữ với nhau.

– Viết đẹp là:

+ Các chữ có nét thanh, nét đậm (theo tỉ lệ 1:2).

+ Nét chữ mềm mại, thanh thoát.

+ Bố cục bài viết hài hòa trên trang vở (trang giấy)

Lưu ý: Ngài ra học sinh cần biết viết sáng tạo một số chữ hoa hoặc tình bày sáng tạo bố cục một số bài thơ để bài viết sinh động hơn (song sự sáng tạo phải ở mức độ hợp lí, tránh sự phức tạp làm rối bài viết ).

2.Thực trạng trước khi thực hiện các giải pháp của đề tài

Đầu năm học khi nhận lớp 5A, qua khảo sát, theo dõi, kiểm tra học sinh của lớp cho thấy tình hình chung như sau :

2.1. Thuận lợi

          – Nhìn chung các học sinh đã nắm được quy trình viết, biết cách viết chữ, viết đúng mẫu, đúng cỡ chữ quy định.

          – Đa phần phụ huynh luôn quan tâm đến con em của mình.

2.2. Khó khăn

Bên cạnh mặt thuận lợi, trong quá trình “rèn chữ đúng và đẹp” còn một số khó khăn như sau:

Rèn chữ cho học sinh nhất là với một lớp có nhiều đối tượng: Giỏi, khá, trung bình và cả yếu nữa là một việc khó. Mỗi khối lớp đều có những khó khăn nhất định.

Với học sinh khối lớp 5: Có thuận lợi là các em đã sử dụng bút mài quen nhưng lại có một số khó khăn khác. Đó là:

+ Không có giờ tập viết, giờ chính tả cũng rút đi, chỉ còn một tiết trong một tuần. Thời gian dành cho luyện chữ ít.

+ Khối lượng kiến thức của các em nhiều nên dễ hình thành cho các em thói quen viết nhanh, viết ẩu vì  thế các em rất ngại viết bút mài.

+ Nếu như ở lớp 1,2,3, các em viết chưa chuẩn nét thì sửa cho các em nét chữ rất khó vì một số thói quen: cách cầm bút, tư thế viết, nét chữ đã hình thành thói quen từ lâu rồi.

+  Bản thân mỗi em chưa phát huy được tính tự học tự rèn ở trường cũng như ở nhà. Mặt khác phụ huynh chưa đôn đốc nhắc nhở còn thờ ơ với việc học tập.

+ Ngoài ra bàn ghế cũng chưa phù hợp với lứa tuổi từng học sinh làm ảnh hưởng đến tư thế ngồi của các em.


2.3. Số liệu thống kê

  • Vở: 14/28 xếp loại A: Đạt 50%
  • Chữ: 17/28 xếp loại A: Đạt 60.71%

Thực trạng cho thấy, lớp còn nhiều học sinh viết chưa đúng mẫu và trình bày chưa đúng. Trong khi đó lên lớp 5 các em phải ghi bài nhiều nên phải viết nhanh cũng làm cho các em dễ có thói quen viết ẩu, xấu.

Đó cũng là khó khăn giáo viên gặp phải, vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh, biện pháp nào có thể rèn chữ viết cho học sinh đúng và đẹp hơn?

  1. Một số giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề đặt ra

3.1. Khắc phục tình trạng viết xấu

3.1.1. Chuẩn bị tốt các điều kiện học tập

Đây là nhiệm vụ của giáo viên và phụ huynh kết hợp với nhà trường. Đây là điều kiện tối thiểu cần thiết cho mỗi học sinh. Đó là:

Bút: Bút mài ( giáo viên kiểm tra ngòi đúng tiêu chuẩn: không gai, không ra đậm mực)

Vở:

+ Năm ly.

+ Không bị nhòe khi viết mực.

– Chỗ ngồi:

+ Bàn ghế đúng quy cách phù hợp học sinh.

  + Lưu ý: Học sinh thấp nên chọn cho các em ghế cao hơn một chút và ngược lại với học sinh lớn.

– Ánh sáng:

        + Phòng học phải có cửa sổ lớn đủ ánh sáng.

        + Nếu không có ánh sáng tự nhiên thì cần bật điện đủ ánh sáng để không ảnh hưởng tới thị lực cũng như chữ viết của các em.

Bảng lớp : Bảng lớp được treo ở độ cao vừa phải, cạnh dưới của bảng ngang tầm đầu của học sinh ngồi trong lớp.

3.1.2. Thường xuyên nhắc nhở học sinh nắm được các quy tắc trong quá trình viết

– Tư thế ngồi:

+ Cột sống lưng luôn ở tư thế thẳng đứng, vông góc với mặt ghế ngồi. Không ngồi vặn vẹo lâu dần thành có tật dẫn đến cong vẹo cột sống.

+ Hai chân để thoải mái, không để chân co chân duỗi khiến cột sống phải lệch vẹo và chữ viết sẽ xiên lệch theo.

+ Tay trái để xuôi theo chiều ngồi, giữ lấy mép vở cho khỏi xô lệch, đồng thời làm điểm tựa cho trọng lượng nửa người bên trái.

+ Khoảng cách từ mắt đến vở khoảng 25cm->30 cm, không được nhìn quá gần vì dễ dẫn đến cận thị.

Hình 1: Minh họa tư thế ngồi viết

Cách cầm bút:

+ Cầm bằng ba ngón tay phải:

  • Ngón giữa:Giữ phía dưới có tác dụng đưa lên tạo nét thanh.
  • Ngón trỏ: Ở trên chỗ tay cầm có tác dụng kéo xuống nhấn bút tạo nét đậm.
  • Ngón cái: Giữ bút phía ngoài.

+ Má bàn tay tì xuống làm điểm tựa.

+ Khi viết kết hợp nhịp nhàng ba ngón tay và cử động cổ tay.

+ Cầm bút xuôi theo chiều ngồi bút đặt nghiêng so với  giấy khoảng 45 độ. Tuyệt  đối không cầm bút dựng đứng 90 độ. Đưa bút từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, các nét đưa lên hoặc đưa sang ngang phải thật nhẹ tay.

+ Ngòi bút úp xuống mặt giấy, cổ tay thẳng thoải mái với cánh tay.

+ Lưu ý: Khi viết không được nhấc bút liên tục.

Hình 2: Minh họa cách cầm bút

  • Cách để vở, xê dịch vở khi viết:

+ Khi viết chữ đứng, học sinh cần để vở ngay ngắn trước mặt.

+ Nếu tập viết chữ nghiêng, tự chọn cần để vở hơi nghiêng sao cho mép vở phía dưới cùng với mép bàn tạo thành một góc khoảng 150.

Khi viết độ nghiêng của nét chữ cùng với mép bàn sẽ tạo thành một góc vuông 900.  Như vậy, dù viết theo kiểu chữ đứng hay kiểu chữ nghiêng, nét chữ luôn thẳng đứng trước mặt (chỉ khác nhau về cách để vở).

  • Cách trình bày bài:

+ Học sinh nhìn và viết đúng theo mẫu trong vở tập viết.

+ Viết theo yêu cầu được giáo viên hướng dẫn tránh viết dở dang chữ hoặc viết chòi ra mép vở không có dòng kẻ li.

+ Khi viết sai chữ, không được tẩy xoá mà cần để cách một khoảng ngắn rồi viết lại.

        – Học sinh nắm được tỉ lệ chiều cao các con chữ và khoảng cách các con chữ trong một chữ, khoảng cách giữa các chữ. Những quy tắc này học sinh đều nắm được song giáo viên cần thường xuyên nhắc nhở, đặc biệt với học sinh yếu kém. Cụ thể:

  + Về khoảng cách:

  • Giữa các chữ với chữ bằng một chữ a.
  • Giữa các con chữ: bằng nhau, không thưa quá cũng không được dày quá.

  + Về tỉ lệ chiều cao:

Mỗi nhóm chữ cái có đặc điểm riêng nên khi học sinh viết sai độ cao của các chữ cái giáo viên phải cho học sinh năm vững hình dáng, cấu tạo, quy trình viết chữ cái. Từ đó giáo viên có thể phân loại hệ thống chữ cái tiếng việt thành các nhóm để luyện viết cụ thể là:

  • Các chữ cái viết thường : Các con chữ h, b, g, y, l được viết với chiều cao 2,5 đơn vị (tức 5 ô li).
    • Chữ cái t được viết với chiều cao 1,5 đơn vị (3 ô li vở)
    • Chữ cái r, s được viết với chiều cao 1,25 đơn vị
    • Chữ cái d, đ, p, q được viết với chiều cao 2 đơn vị
    • Các chữ cái còn lại : o, ô, ơ, a, ă, â, e, ê, i, u, ư, c, n, m, v, x được viết với chiều cao 1 đơn vị.
    • Các dấu thanh được viết trong phạm vi 1 ô vuông có cạnh là 0,5 đơn vị
  • Viết số: Chiều cao của các chữ số là 2 đơn vị
  • Các chữ cái viết hoa: Chiều cao của các chữ cái viết hoa là 2,5 đơn vị. Riêng chữ cái viết hoa Y, G được viết với chiều cao 4 đơn vị.

3.2. Giúp học sinh từ viết đúng tiến tới viết đẹp.

Các điều kiện mà tôi vừa trình bày ở phần trên  chỉ là điều kiện cần nhưng chưa phải là đủ để viết chữ đẹp. Để giúp học sinh từ viết đúng tiến tới viết đẹp giáo viên cần chú ý kết hợp một số phương pháp sau:

  • Giúp học sinh hiểu văn bản
  • Gây hứng thú cho học sinh khi viết: Học sinh không thể viết đẹp khi chưa hiểu và không hứng thú với văn bản viết. Vì thế, giáo viên cần giúp học sinh tiếp cận với văn bản viết.

Ví dụ: Bài thơ “ Tiếng ru”  của nhà thơ Tố Hữu

TiÕng ru…” Mét ng«i sao ch¼ng s¸ng ®ªmMét th©n lóa chÝn, ch¼ng nªn mïa vµngMét ng­êi – ®©u ph¶i nh©n gian?Sèng ch¨ng, mét ®èm löa tµn mµ th«i!Nói cao bëi cã ®Êt båi
Nói chª ®Êt thÊp, nói ngåi ë ®©u?Mu«n dßng s«ng ®æ biÓn s©uBiÓn chª s«ng nhá, biÓn ®©u n­íc cßn?” …
 

Khi học sinh viết chính tả nghe đọc bài “ Tiếng ru” , giáo viên cần giảng cho học sinh hiểu được nhà thơ Tố Hữu đã mượn lời ru mượt mà êm ái của người mẹ để khuyên chúng ta: “ phải biết thương yêu, quý trọng mọi người trong cộng đồng ”.

Khi học sinh hiểu được sâu sức các từ cũng như ý nghĩa, cái hay, cái đẹp của bài thơ thì các em sẽ viết với sự trân trọng và tập trung hơn vào bài viết.

3.2.2. Chấm tay đôi với học sinh

Trong một lớp có nhiều học sinh thì không phải tất cả học sinh đều mắc lỗi viết giống nhau mà mỗi em có một điểm mạnh yếu khác nhau. Vì thế giáo viên cần chấm tay đôi với học sinh để giúp các em nhận thấy mặt yếu của mình để sửa.

Ví dụ: Có những học sinh viết chữ rất xấu do viết nét khuyết trên hơi ngửa về tay trái. Giáo viên viết mẫu nét khuyết trên rồi cho học sinh viết lại cho đến khi chuẩn mới thôi.

  • Hình thức làm mẫu
  • Giáo viên làm mẫu: Giáo viên cần trình bày đẹp, cân đối, sang sủa để làm chuẩn cho học sinh.
  • Học sinh làm mẫu: Khi chấm bài cho học sinh, giáo viên cho học sinh xem những bài chuẩn nhất về cách trình bày hoặc chữ viết hoặc cả cách trình bày và chữ viết (nếu có) để học sinh học tập.

Có thể sử dụng phương pháp “đòn bẩy” bằng cách đưa ra những bài yếu kém về trình bày hoặc chữ viết để học sinh nhận ra sự tương phản giữa “cái chuẩn – chưa chuẩn” , “cái đẹp – cái xấu” để hạn chế và phát huy những điểm mạnh, điểm yếu của mình.

  • Hình thức tuyên dương – phê bình
  • Khi chấm bài: Giáo viên nên chú trọng điểm trình bày (sạch và đẹp) đối với môn Toán cũng như môn Tiếng Việt…
  • Sau mỗi lần chấm: Giáo viên nên chọn năm học sinh viết chữ đẹp nhất lớp để tuyên dương, treo vở trên bảng để học sinh quan sát và bình chọn: nét chữ đẹp nhất, cách trình bày đẹp nhất.
  • Đưa “viết chữ đúng và đẹp” vào việc đánh giá thi đua giữa các tổ. Cuối tuần bình bầu ba bạn viết chữ đẹp nhất và ba bạn viết chữ tiến bộ nhất.
  • Giáo viên cần quan tâm đến sự tiến bộ dù là nhỏ nhất của những học sinh viết chữ xấu để động viên, tuyên dương kịp thời, kích thích các em ham học. Nhưng với học sinh viết chữ đẹp cần nghiêm khắc với lỗi dù là nhỏ để các em không có thái độ chủ quan.
    • Thái độ, phương pháp dạy của giáo viên ảnh hưởng đến tâm thế của học sinh
  • Khi chúng ta vui vẻ hiệu suất công việc bao giờ cũng cao hơn. Học sinh của chúng ta cũng thế. Vậy giáo viên phải làm gì để học sinh có một tâm thế thoải mái, vui vẻ khi làm bài?

Để trả lời được câu hỏi này giáo viên cần phải chú ý đến các điểm sau:

+ Đề bài: Không quá dài, và không quá khó đối với trình độ một học sinh trung bình khá vì một học sinh trung bình nhìn đề bài quá dài hoặc quá khó, phải làm trong 60’->90’ mới xong sẽ gây tâm lí chán nản, mệt mỏi, nảy sinh ý thức “viết cho xong”.

+ Giọng điệu và thái độ: Giáo viên phải nhẹ nhàng, gần gũi.

Ví dụ: Khi đọc chính tả: Giọng nhẹ nhàng, điềm đạm, phát âm chuẩn…

+ Với học sinh yếu kém: Giáo viên nhẹ nhàng nhắc nhở, tránh cáu kỉnh, to tiếng làm cho học sinh đó mất bình tĩnh và ảnh hưởng tới tất cả học sinh khác.

  1. Hiệu quả do sáng kiến kinh nghiệm đem lại

Qua một thời gian áp dụng, tôi thấy học sinh lớp có những chuyển biến rõ rệt về chữ viết. Viết nắn nót, cẩn thận đã thành thói quen của học sinh. Các em luôn tự giác trong học tập, sách vở luôn giữ sạch đẹp. Phong trào “vở sạch – chữ đẹp” của lớp luôn được Ban thi đua đánh giá cao. Vở viết của học sinh đảm bảo chất lượng, chữ viết đúng mẫu, tốc độ viết đúng quy định

Cụ thể:

  • Vở: 28/28 xếp loại A: Đạt 100%
  • Chữ: 23/28 xếp loại A: Đạt 82.14%

Đặc biệt: Có 5 học sinh chữ đẹp cấp huyện, 3 học sinh chữ đẹp cấp tỉnh trong đó có 1 em đạt giải nhất chữ đẹp cấp Tỉnh.


III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

“ Rèn viết chữ đúng và đẹp” không còn là vấn đề mới song nó sẽ mãi mãi không bao giờ cũ. Vì bên cạnh sự phát triển toàn diện của mỗi học sinh thì yêu cầu “Văn hay – Chữ tốt” luôn là một việc làm cần thiết.

      Tuy vậy trong quá trình giảng dạy tập viết cho học sinh để giúp các em có chữ viết đúng, đẹp góp phần học tốt tất cả các môn học trong nhà trường tôi xin có một số kiến nghị như sau :

* Đối với giáo viên :

– Không ngừng nâng cao chất lượng chữ viết của mình để mỗi chữ giáo vên viết ra sẽ làm khuôn mẫu cho các em học sinh noi theo. Chữ của giáo viên khi chữa bài, chấm bài cũng được học sinh quan sát như một loại chữ mẫu, vì thế, giáo viên cần có ý thức viết chữ đẹp, đúng mẫu, rõ ràng.

– Kết quả việc rèn chữ viết cho học sinh không phải ngày một, ngày hai mà có được. Mà đó là kết quả của một quá trình dày công khổ luyện của cả thầy và trò, dưới sự dìu dắt, chăm sóc tận tình của các thầy giáo, cô giáo chính vì vậy mà mỗi thầy cô hãy  luôn mang trong mình bầu nhiệt huyết, lòng nhiệt tình, sự kiên trì. Sự nhiệt tâm, chu đáo của giáo viên là một trong những yếu tố đảm bảo sự thành công của giờ dạy của giờ tập viết.

– Giáo viên cần thường xuyên gặp gỡ với phụ huynh học sinh nhất là đối với những em viết hay bị mắc lỗi để trao đổi và thống nhất cách dạy các em ở nhà cùng với cách dạy của cô ở trên lớp để phụ huynh biết và giúp đỡ con em mình luyện viết ở nhà tốt hơn.

*  Đối với phụ huynh học sinh :

– Các bậc phụ huynh hãy tạo cho con em mình điều kiện vật chất tốt nhất có thể được và tạo cho các em  có tâm lý vui vẻ nhất khi bước chân đến lớp.

–  Phụ huynh cần trao đổi với giáo viên để có cách dạy các cháu ở nhà thống nhất với giáo viên ở lớp.

Trên đây là một vài biện pháp nhỏ mà bản thân tôi đã rút ra qua quá trình nghiên cứu và giảng dạy ở lớp mình để rèn nề nếp và kĩ thuật viết chữ đúng cho các em. Kính mong lãnh đạo các cấp cùng quý đồng nghiệp góp ý để bản thân tôi rút kinh nghiệm, học hỏi và áp dụng vào giảng dạy được tốt hơn.  

Tôi xin chân thành cảm ơn!

  TÁC GIẢ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM(Ký và ghi rõ họ tên)   Hoàng Thị Hạnh

 

 

CƠ QUAN ĐƠN VỊÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM(Xác nhận, đánh giá, xếp loại)……………………………………………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… (Ký tên, đóng dấu)    

 

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

(Xác nhận, đánh giá, xếp loại)

………………………………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………………………………

(Ký tên, đóng dấu)

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tham khảo là sách, luận án, báo cáo phải ghi đầy đủ các thông tin sau:

� � Tên các tác giả hoặc cơ quan ban hành ( không có dấu ngăn cách)
� �(Năm xuất bản), ( đặt trong ngoặc đơn, dấu phẩy sau ngoặc đơn)
� �Tên sách, luận án hoặc báo cáo, (in nghiêng, dấu phẩy cuối tên)
� �Nhà xuất bản, (dấu phẩy cuối tên nhà xuất bản)
� Nơi xuất bản,( dấu chấm kết thúc tài liệu tham khảo)

1- �Quách Ngọc Ân (1992), ” Nhìn lại hai năm phát triển lúa lai”, Di truyền học ứng dụng, 98(1), tr. 10 -16.
2- � Bộ Nông nghiệp & PTNT (1996), Báo cáo tổng kết 5 năm ( 1992 – 1996) phát triển lúa lai, Hà Nội.


PHỤ LỤC

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 
 
Chữ mẫu viết trong vở ô li của học sinh